Chuyện người Việt Nam Cộng hoà và một Việt Nam mới

Oanh Ha – một phóng viên người Mỹ gốc Việt – đã có một bài viết đặc biệt, kể chuyện đại ý về người Việt Nam Cộng hòa và một Việt Nam mới trên Bloomberg. Tôi xin phép lược dịch lại bài viết cảm động này:

Người Việt Nam

Kể từ khi may mắn đặt chân lên được đất Mỹ năm 1979, tôi và cha đã cắt đứt mọi mối liên hệ đến Việt Nam. Thế nhưng sau 3 thập niên, vào năm 2010, tôi muốn trở lại quê hương cùng các con của mình, cũng chính là cháu của cha tôi.

Nghe thông báo, cha bước về phía tôi, mắt nhìn thẳng.

“Con biết rõ là họ không ưa chúng ta mà?” – ông tiếp – “Con đã biết là cả nhà chúng ta đã liều cả mạng sống đến đây thì tại sao bây giờ con lại muốn trở về cùng các cháu của ta?”.

Tôi đã từng chừng kiến sự tức giận của cha trước đó, nhưng chưa từng nhìn thấy sự tổn thương trong đôi mắt ông, như lúc này.

Giống như rất nhiều người Mỹ gốc Việt, cha tôi chỉ trích kịch liệt chính phủ hiện thời tại Việt Nam, vốn bắt đầu lên nắm quyền kể từ ngày 30.4.1975. Và mặc dù sinh sống nhiều năm ở miền nam California, chỉ cách Little Saigon – nơi cộng đồng người Việt nhập cư từ những năm 1980 đang sống vài dặm, nhưng những từ ngữ liên quan đến chính trị không bao giờ được phép nhắc đến trong các cuộc trò chuyện gia đình.

Nay, quyết định trở về của tôi đã đẩy ông vào tình thế phải đối mặt trở lại với nỗi đau thương đã cố chôn giấu nhiều năm qua.

Sự đối lập về tư tưởng giữa hai thế hệ như tôi và cha không lạ đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt ngày nay. Nhiều người trẻ như tôi đang tìm cách kết nối lại với nơi mà mình đang có dòng máu chảy trong người – nơi chôn nhau cắt rốn của ông bà cha mẹ ngày xưa, hơn là chỉ biết đứng phân vân giữa hai dòng văn hoá, hai luồng tư tưởng đối lập nhau.

Là một phóng viên, tôi muốn mang đến bạn bè quốc tế câu chuyện về một Việt Nam hiện đại, lẫn câu chuyện về những người Việt Nam năm xưa, giống như cha tôi – một thợ cơ khí từng làm việc trong Không quân Việt Nam Cộng hòa trước ngày 30.4.1975.

Những vết thương cũ

Nhiều người phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, vẫn nhìn Việt Nam qua ống kính của chiến tranh và không nhận thức được sự phát triển dân số sôi động đang bao trùm lên mọi thứ tại Mỹ, nơi có nền kinh tế phát triển nhanh và hiện đại hàng đầu thế giới.

Đó là những điều đôi khi rất khó khăn để những người thuộc thế hệ cha tôi nắm bắt được, bởi vẫn còn mang những vết thương lòng từ những năm tháng chiến tranh trên quê hương.

Không tin tưởng vào chính quyền mới thiết lập sau ngày 30.4.1975, cả ông bà và cha mẹ tôi đã liều mạng rời khỏi Việt Nam bằng đường biển. Không giống như nhiều thuyền khác bị chìm, chúng tôi nhờ có một thủy thủ kinh nghiệm ở vị trí lãnh đạo thuyền – ông nội của tôi. Cha tôi và các chú bác còn trang bị thêm một chiếc thuyền di chuyển trên sông. Chúng tôi đã phải trả cho chính quyền địa phương 2 lượng vàng (khoảng 2.900 USD theo giá hiện nay) để được phép đi.

Khoảng 30 người thân của tôi và 300 hành khách khác chen chúc trên một chiếc thuyền mang số hiệu MH2899, vốn chỉ được thiết kế cho một phần ba số người hiện có mặt lúc đó. Sự quá tải đó là do các quan chức tham lam nhận tiền thêm từ người dân và kéo dài thời gian cho phép thuyền rời đi, giữa lúc trời sắp chuyển bão…

Những cơn sóng đen

Lúc đó tôi được 6 tuổi và ký ức những ngày đó còn khiến tôi sợ hãi cho đến tận bây giờ.

Những cơn sóng biển đen ngòm liên tục đập vỡ toang boong tàu suốt các trận bão, nhấn hành khách nhiều giờ trong nước biển lạnh. Họ chỉ biết la hét, chỉ biết cầu nguyện tổ tiên, thần linh.

Những cơn bão đi qua, chúng tôi bị hải tặc Thái Lan tấn công đến 4 lần. Tôi đã im bặt khi chứng kiến một người đàn ông trung niên khóc lóc thảm thiết vì bị hải tặc lấy đi vàng trong ngăn hành lý bí mật, kim cương và đá quý thì rỉ ra từ ống kem đánh răng.

Trong cuộc tấn công khác, một người phụ nữ làm rơi vàng trang sức vào lon nhôm đựng cháo của tôi, ngay khi một tên cướp biển tay cầm rựa xông vào cabin.

Nhiều năm sau khi đã là sinh viên đại học, tôi kể lại cho cha mẹ chuyện này. Mẹ tôi cười bảo: “Là mẹ đấy!”. Đó là trang sức cưới của bà. Khi chúng tôi đến trại tị nạn trên đảo Bidong của Malaysia, bà đã đổi cái vòng cổ hồi đám cưới với cha tôi để lấy các tấm bạt và gỗ để làm lều cho chúng tôi sống được trong 1 năm.

Giữa những năm 1975 và 1995, gần 800.000 thuyền nhân Việt Nam đã xin tị nạn ở các nước khác, theo con số của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn. Vô số những người khác đã chết trên biển.

Đạt được mọi thứ từ sự bỏ lại

Chúng tôi đã kết thúc hành trình của mình tại Quận Cam, nơi có đông người dân Việt Nam sang Mỹ nhất. Cha mẹ tôi phải vật lộn mỗi ngày để hòa nhập với cuộc sống, họ đi giao báo và may vá trước khi thành lập và phát triển một doanh nghiệp gia đình.

Chúng tôi ít khi nói về cuộc chiến hay cuộc hành trình đến Mỹ. Mẹ tôi bảo rằng ký ức đó quá đau đớn. Nhưng nó không còn như thế cho đến khi tôi phát hiện ra người chị của mẹ tên Nguyễn Thị Giác, vốn là giáo viên, đã rời bỏ gia đình để tham gia du kích, cũng như anh trai bà đã chiến đấu cho quân đội miền Bắc Việt Nam. Bà Giác bị chính quyền miền Nam Việt Nam bắt và sinh ra một đứa con trai trong tù.

Liệu có nỗi buồn và khao khát nào như khi người lớn nói về quê hương? Khi tôi lớn lên, tôi hiểu được sự trớ trêu trong tâm khảm của cha mẹ mình.

Ở Mỹ, gia đình tôi đã đạt được những điều mà nhiều người nhập cư mơ đến. Tôi đã trở thành sinh viên đầu tiên trong gia tộc. Anh trai tôi – Vũ, từng là một sĩ quan hải quân ở chiến trường Iraq. Em gái tôi – Louise có thời gian ngắn đóng vai chính trong một chương trình truyền hình thực tế.

“Chúng ta phải cảm ơn cộng sản” – cha nói với tôi vào một ngày gần đây – “Nếu họ không lên nắm quyền chúng ta sẽ không rời khỏi Việt Nam, các con sẽ không bao giờ có cơ hội thành công và tận hưởng sự thành công như bây giờ. Chúng ta đã đạt được mọi thứ bằng cách để tất cả ở lại”.

Lần đầu tiên tôi trở lại Việt Nam, mang chặt trong tim sự tội lỗi lẫn lòng biết ơn. Tôi tìm thấy tôi từ khuôn mặt của những cô gái rao bán bưu thiếp và người bán hàng rong đi khắp nơi từ sáng sớm tới chiều tối. Chỉ có sự may mắn mới chia tách được cuộc sống của tôi với họ.

Kể từ chuyến đi đó, tôi bắt đầu cảm nhận được “Việt Nam” trong tiếng gọi của mình.

Cha sang thăm chúng tôi tại Hà Nội cách đây 2 năm. Đã hơn 20 năm rồi, ông mới bắt đầu đi thăm những người thân khác trong gia đình. Ông trò chuyện với tài xế taxi và người bán hàng rong về cuộc sống và hoàn cảnh của họ. Ông đang chấp nhận một Việt Nam mới.

“Người dân đã sống tự do và thoải mái hơn so với năm 1992, hồi đó cha thấy nhiều người ra đường trong bộ quần áo rách” – ông kể – “Cha cảm thấy hạnh phúc cho người Việt mình lúc này. Không còn gì để mà thù oán nữa cả!”.

Anh Thư Trần lược dịch từ Bloomberg

http://www.bloomberg.com/news/articles/2015-04-08/a-daughter-s-vietnam-return-forces-a-father-to-confront-his-past?cmpid=yhoo